Sunday, January 31, 2010

Cái nhớ xưa nhất

Về Sài Gòn chơi, trong buổi nhậu cà kê dê ngỗng nhắc lại chuyện đi học với đám bạn thời trung học, tên bạn đời của tôi, KTS HNH, từ tốn nâng ly rượu, chậm rãi phán: "Mày nhớ nhiều thật! Ở đời, có cái nên nhớ, có cái nên quên...". Nghe xong, tôi giật mình, tên này phát biểu một câu nặng triết lý, đáng suy ngẫm, hình như cái đầu mình có gì... trục trặc.

Tôi đi lần vào quá khứ, xem thử cái nhớ xưa nhất của mình bắt đầu từ năm nào.

Có lẽ, đó là năm 69, khi ba tôi làm quận trưởng Minh Long, Quảng Ngãi, mẹ tôi dắt hai anh em tôi (khi đó chỉ mới hai, chưa bốn) từ Huế vào ăn Tết với ba tôi. Trước khi lên quận, mẹ con tôi phải ở lại nhà ông cậu, em ruột bà ngoại tôi, một đêm trong thành phố Quảng Ngãi. Bà mợ có sạp bán giày dép và guốc ở chợ Quãng Ngãi, ôn và bà còn nói tiếng Huế nhưng mấy dì nhỏ nhỏ của tôi nói giọng Quảng Ngãi, rất ư là khó nghe. Buổi tối đó, trong bữa cơm gia đình, bà mợ luộc một dĩa rau muống thiệt to, ôn gắp trúng một cọng chưa lặt, dài ngoằn, ôn lắc đầu đứng thẳng lên ghế giơ cọng rau dài hơn nửa thước, đám con nít tụi tôi ôm bụng cười ha hả.


Hôm sau, ba tôi nhờ bên không quân cho mẹ con tôi đi ké lên quận bằng trực thăng vì đường bộ chưa được an ninh lắm. Lần đầu tiên được ngồi lên chiếc trực thăng UH1-B, tôi thích thú vô cùng, cứ nhoài người, trố mắt nhìn qua vai người lính xạ thủ đại liên ngó ra ngoài, gió tạt vô mặt vù vù. Khi trực thăng sắp hạ cánh, tôi thấy những người Thượng đeo con sau lưng, làm ruộng, có người ngực trần lòi vú, tôi mắc cở che mặt khiến mấy chú lính cười cười, ghẹo thêm thằng nhóc.  Tối đó, tôi ấm ức khóc, cành nanh với thằng em, đòi ngủ chung với ba mẹ, ba tôi dỗ dành, dắt tôi ra cái ghế bố bảo tôi là con trai phải can đảm gan dạ, lại là anh cả, phải nhường cho em. Ba tôi cho tôi một món đồ chơi để nằm ôm ngủ, chiếc máy bay F111 cánh cụp cánh xòe chạy bằng pin. Nếu tôi nhớ không lầm, đó là lần đầu tiên trong đời tôi ngủ một mình, với giấc mộng lớn lên nhất định sẽ làm phi công.




Quận Minh Long đèo heo hút gió, buồn ơi là buồn. Tết nhất, tôi chỉ thấy mấy chú lính của ba tôi tụ tập dánh bài, binh xập xám và nhậu. Mấy chú đứng vòng bày trò chơi, lấy chiếc F111, để trên đó một ly rượu, hễ chiếc F111 chạy trúng người nào, người đó phải uống, nếu ly rượu ngã xuống, người rót rượu phải uống bù, tôi chỉ biết chạy lăn xăn quanh chân mấy chú. Sau đó, ba tôi được thuyên chuyển vào Diên Khánh, nơi ông nội tôi có thời làm quan Lãnh Binh và cưới bà nội thứ ba, bà nội ruột của tôi, mẹ tôi lại dắt díu anh em tôi vào Nha Trang.


Ơi cái trí nhớ nhỏ nhoi tội nghiệp của tôi, cái đáng nhớ lại không nhớ. Viết blog, đôi khi tôi khựng lại với dấu hỏi ngã, phân vân không biết mình viết đúng hay sai chánh tả; đôi khi tôi viết nhưng không chắc cái ý đó đọc ở đâu hay mình nghĩ ra, sợ rằng mình mang tiếng đạo văn. Ấy mà ba cái chuyện từ thời con nít ở truồng tắm mưa thì lại nhớ hoài mới chết. Cách đây mười năm, trước khi về thăm lại Sài Gòn lần đầu tiên, tôi có thể nhắm mắt vẽ lại bản đồ phố xá Sài Gòn với tên gọi của con đường trước 75. Nhớ từng ngõ hẻm đi khuya về tắt. Về lại Mỹ, như được xả bầu tâm sự, tôi bắt đầu quên tên những con đường nhỏ. Có những điều tôi thấy tôi lại rất ư bảo thủ. Đường Công Lý là đường Công Lý, tôi không thể nào gọi là Nam Kỳ Khởi Nghĩa hay Nguyễn Văn Trỗi được. Đường Tự Do là đường Tự Do, gọi là đường Đồng Khởi khiến cái miệng tôi nó méo méo như trúng phải gió. Khi đi taxi, tôi chỉ tên đường trước 75 làm mấy tay tài xế người Thanh, người Nghệ nghệt mặt. Đi chơi, tôi chỉ đường cho vợ tôi, cô nàng cũng đờ mặt ra không hiểu, vì cô nàng nhỏ hơn tôi tới tám tuổi, vợ chồng bất đồng ngôn ngữ!


Tôi viết để xả, bớt ngứa. Và để cố quên.  Nếu tình cờ bạn đọc, thấy vô lý, gửi bạn lời xin lỗi nhé. Peace.

Friday, January 29, 2010

Đọc Blog Mùa Biển Động

Cả tháng nay, tôi theo dõi blog Mùa Biển Động, tôi không biết chủ nhân trang blog này là ai nhưng nhà văn Nguyễn Mộng Giác cho phép đăng tải cuốn trường thiên tiểu thuyết dài năm tập của ông on line. Khi qua Munich chơi vào năm 97, tôi có coi cọp từ tủ sách của ông dượng, tôi không dám mua vì giá nguyện bộ lúc đó cũng lên tới $200, khá bộn tiền. Bây giờ tôi đã rủng rỉnh chút tiền dằn túi vợ cho để lỡ đạp bánh tráng, lại không có tiệm sách Việt nào quanh đây để lang thang ngắm nghía bợ về.

Tôi biết đến Nguyễn Mộng Giác khi đọc cuốn Ngựa Nản Chân Bon trong thư viện của trại tỵ nạn Palawan, thích lắm. Với giọng văn nhẹ nhàng, ông ta kể những câu chuyện ngắn của thời vượt biên tới đảo Galang của Nam Dương. Như người cùng cảnh ngộ, tôi chìm trong từng câu văn, tôi thấm từng mẩu chuyện đời khoác áo tỵ nạn xứ người. Tôi thích nhất là chuyện Một Mảng Mây Bay, vì lúc ấy, tôi cũng đang ở độ tuổi đôi mươi mới lớn, cũng một lần có cảm giác hụt hẫng như thế.

Trở lại với Mùa Biển Động, tôi theo bước chân của Ngữ quay về thời mới lớn của thế hệ ba mẹ, cô dì, chú bác của tôi, quay về đất thần kinh, Huế, nơi chôn nhau cắt rốn của tôi. Trận Mậu Thân, tôi chỉ mới lên hai, có biết ất giáp chi mô, chỉ nghe bà ngoại tôi trỏ cái vòng đường kính hơn một mét với màu xi măng khan khác trên nền căn nhà phố Trần Hưng Đạo bảo là đạn pháo kích. Mô Phật, chổ ấy là chổ mẹ tôi treo cái nôi thường ru tôi ngủ. Hay nghe bà cô ruột tôi bảo HPNT là bạn học chung Quốc Học với ba tôi. Năm 85, tôi là trưởng nam, được đại diện gia đình trong Sài Gòn về lại Huế để cải táng mộ ông nội, tôi thấy cảnh người ta đào xới giải tỏa nghĩa trang. Bây chừ đọc lại Mùa Biển Động với cảnh đào xới mồ chôn tập thể, mường tượng na ná, tôi rùng mình. Những vành khăn tang trắng lố nhố, vòng khói hương nghi ngút... Người lái đò không chịu chở hủ cốt ông nội tôi qua sông, sợ oan khiên lật đò, tôi phải kiếm bẹ chuối kết làm bè kéo qua. Đứng trên đồi cao, ngó quanh những bụi sim tím rịm, cô tôi cười hỏi có biết màu tím Hoa Sim không. Tôi chợt hiểu tại sao hồi đó những người con gái Huế mê màu tím. Mà kỳ lạ lắm bạn ơi, khi bắt đầu biết nhớ, tôi không ở Huế, nhưng hễ về lại Huế, tôi cứ có cảm giác thân thương quen thuộc trong máu dậy lên. Mỗi viên gạch, mỗi ngã đường hay mỗi trụ đèn... đều như là chứng nhân của lịch sử sẳn sàng kể lại cho tôi nghe câu chuyện năm xưa (không biết câu này tôi có đạo văn Trần Vũ không nữa!?!?!). Tôi đặt tên bé Xí là Nam Giao với ước muốn ghém một chút Huế còn lại trong tôi cho nó.

Nếu bạn ngập ngừng, ngại ngùng trong mối tình đầu, bạn cũng sẽ tìm thấy chuyện đó ở nhân vật Ngữ. Ngữ yêu Diễm nhưng không dám nói, đọc thấy tức rực, nhưng nghĩ lại, bật cười, mình hồi đó cũng... ngu y chang. Đọc đến đoạn Ngữ đạp xe phóng theo tìm Diễm, tôi nhớ một đêm đội mưa đạp lên chợ Thái Bình đón N. học thêm Toán thầy Cù An Hưng, lần đầu tiên rụt rè nắm lấy tay khi đổ dốc Trương Công Định. Hay đoạn Quỳnh Trang kín đáo nhưng ân cần chăm sóc Ngữ sau cơn say nghe tin Diễm lấy chồng, tôi lại nhớ đến H. khi về Cali thăm nàng, nằm trong căn phòng ngủ của người bạn học cũ, tôi cũng có cảm giác lâng lâng như Ngữ.

Theo lời nói đầu của nhà văn Nguyễn Mộng Giác, cuốn tiểu thuyết chỉ là "sản phẩm tưởng tượng". Hôm nay, trang blog đăng đến chương 87, nhưng kết cuộc ra sao, có lẽ, người đọc cũng có thể đoán biết dựa theo lịch sử, biến cố 75 sẽ ập đến sau mùa hè đỏ lửa 72. Biết là đau nhưng tôi vẫn cứ muốn đọc. Đọc để sống lại một thời vàng son của ba mẹ. Đọc để hiểu thêm một chút về chất Huế DNA di truyền trong máu. Mời bạn: 

Thursday, January 28, 2010

Bạn

Bạn
tới PHTh.
 
Xưa gọi nhau tiếng mày
Chừ kêu mày bằng bác
Hỏi rằng có chi khác?
Chỉ, tóc bạc, tóc mây...
Đất trời cái khoát tay
Hăm mấy năm một thoáng
Phù vân cơn gió thoảng
Ơi tiếng tao, tiếng mày


Tao: Được vợ,
Mày: Đầu heo.
Mày lên chức chú,
Tao trèo hang sâu.
Tóc mày
tiêu
muối
trên đầu.
Thân tao phiêu dạt,
địa cầu xẻ đôi.
Rót ly rượu,
uống mềm môi.
Tao đi,
mày ở.
Ừ, thôi.
Chữ Tình.


năm 2000 lấy vợ

Tuesday, January 26, 2010

AOL: Thời để thương và để ghét.

Nếu bạn ở Mỹ, thể nào bạn cũng biết đến American On Line (AOL) có một thời cực thịnh vào những năm 97 đến 98, giá cổ phiếu của công ty lên vùn vụt. Tôi làm nghề phát thư, bực mình với những CD quảng cáo cồng kềnh, nhưng về đến nhà, lại không khỏi ngồi trước cái còm nhảy vào AOL để chít chát.  Mê lắm! Không chỉ riêng mình tôi mà cả nước Mỹ mê.


Tại sao mê đến như vậy? Theo tôi, có nhiều lý do:
  1. Dễ xài, già trẻ lớn bé ở độ tuổi Trời Hành từ 7 đến 77 tuổi đều có thể xài được. Bạn chỉ cần bỏ cái CD vào là computer tự động install software, chọn lựa vài ba thứ lặt vặt như số phone địa phương để modum gọi đi, tên giả... là xong.
  2. Tâm lý biết xài computer, một món đồ chơi mắc tiền trước đó mấy năm là cả bạc ngàn, khiến thiên hạ có cảm giác trí thức, theo kịp hiện đại bước tiến kỹ thuật.
  3. Sự tương tác (interactive) giữa người và người xen lẫn giữa người và máy tính tạo nên sự sống động, hấp dẫn, thu hút cùng cực.
Tôi, cũng như ngàn người (Việt) khác, như con thiêu thân, bị cuốn theo hấp lực AOL đó.  Cứ nhảy vào phòng chat là bạn có thể nói chuyện với người khác trên toàn xứ Mỹ hay vài nước châu Âu khi AOL bành trướng qua bên ấy.  Người ta nói bằng tay, nghe bằng mắt, the sound of silence, đêm khuya chỉ nghe lóc cóc tiếng gõ lên keyboard nhưng có khi lòng rộn ràng tơ tưởng, có khi xa vắng vời vợi theo từng dòng chữ nhảy nhót trên khung hình nho nhỏ.  Người ta chờ nhau ở chốn ấy, người ta yêu nhau cũng từ chốn ấy, rồi ghét nhau, chưởi nhau, vạch mặt nhau đủ thứ trên đời cũng từ chốn ấy.


Khi mới ra, thành viên phần đông lớn tuổi đã đi làm, có income để trả tiền lệ phí; sau, vì cạnh tranh, AOL hạ giá, cho tự do thoải mái với giá $20/m, đám con nít (bây giờ đã lớn, xin lỗi nhé) sau giờ học nhảy vào tưng bừng.  Quyền tự do ngôn luận được phát huy tới bến, chưởi nhau hơn vãi lúa, đánh mất cái thi vị ban đầu.  Tiếc!


Tôi đã làm quen được một vòng bè bạn từ chốn AOL ấy, tôi lái xe, một mình, một ngựa, ra dáng cải lương lãng tử cô đơn, đánh một vòng Đông Nam nước Mỹ hơn 3500 dặm.  Từ Virginia của tôi, bắt I-81 rồi qua I-40 tới Little Rock, Arkansas buồn tênh thăm BuiTran.  Khuya, mệt, tấp vô lề I-40 ngủ, từng chiếc truck rần rật vù qua ào ào.  Rồi tôi xẻ Oklahoma, về tắm nắng hạ Dallas và nhậu thăm Tám.  Nghỉ một đêm ở Houston, trờI mưa không thấy mặt, nhà người quen, tôi lái qua New Orleans thăm Thủy, uống café Du Monde và ăn bánh beignet, lang thang Bourbon St..  Tạt qua miền cát trắng Pensacola tắm biển với người đẹp Tây Đô rồi thẳng một mạch về Orlando, nhà Ng..  Ừ, nhà Ng. nấu phở bỏ tủ lạnh, ăn được ba bốn ngày.  Được ăn thêm món cơm gà!  Năm ngoái, tôi chợt nhớ cái vụ cơm gà này, luộc gà làm cơm cho vợ tôi ăn, bị chê, nóng cả mặt.  Thể nào cũng hỏi lại Ng. cái recipe này mới được.  Chặng về từ Orlando về nhà tôi 900 miles, dài thê lê, tôi nguyện với lòng là sẽ không bao giờ chơi dại, xách xe giang hồ vặt một mình nữa.


Tôi cũng biết một cuộc tình on line đã đi đến hạnh phúc với nhau như T. và Ph.  Về Santa Ana, hai thằng thanh niên trời đánh nhậu không lại ông già vợ tương lai của T., người Nam gốc lính.  Khật khưởng, ngã nghiêng, T. bỏ vô phòng, nằm lăn ói mửa để cho Ph. dọn dẹp.  Tôi cũng biết Đ. với giấc mộng văn chương chữ nghĩa đầy hai vai.  Trên đường từ Boston về lại Dallas, hắn ghé nhà tôi, hai thằng thắp đèn dầu ngồi đất nhậu, vác guitar ra gõ đàn ca hát xướng hà rầm ở basement nhà tôi một đêm mát trời ông địa.  Tôi cũng biết một cô gái Huế lãng mạn, tóc thề dài đến huyền thoại, MitUot BQ.


Bạn ơi, tôi và bạn đã qua đi cái thời độc thân bốc đồng dễ thương mà cũng dễ ghét đó.  Bây giờ, nếu gặp lại, tôi sẽ hỏi bạn một câu như xưa: nhậu không?  Dù dạo này chỉ vài chai là tôi xoay mòng ra ngủ, con mắt nhíu lại.  Nhưng cái máu giang hồ tứ hải giai huynh đệ vẫn còn âm ỉ trong tôi như cái thời nằm dài trong trại tỵ nạn Palawan.  Hẹn gặp bạn nhé.

Sunday, January 24, 2010

Đói, đầu gối phải bò

Nhớ, tục ngữ ca dao Việt Nam mình có câu:  Đói, đầu gối phải bò.  Ừ, đúng thiệt.  Từ ngày mẹ tôi dọn về ở với thằng em thứ ba của tôi, giúp cho con em dâu bụng bầu bed rest, hai vợ chồng tôi phải lăn vô bếp, làm quen lại với con dao cái thớt.


Tôi nói làm quen lại là vì thời mới qua Mỹ, mấy cha con tôi độc thân ở với nhau, đám đàn ông con trai nhà tôi cũng phải tự lo bếp núc, nhưng phần đông, ba tôi nấu.  Khi mẹ tôi qua đoàn tụ, cái bếp là của riêng bà.  Lâu lâu ba tôi bận hay mệt, tôi bị giao trách nhiệm ông Táo là tôi áp dụng nhất y nhất quỡn một món duy nhất: đồ xào.  Thịt bò xào lăn, thịt bò xào hành tây, thịt bò xào cà chua, thịt bò xào với những gói légume đông lạnh...  Riết, ông anh, bạn ở chung đảo, đi làm ca đêm về, bước vô bếp, than: Lại đồ xào!!!


Hai mươi năm sau, tay nghề tôi có khá hơn một chút. Nhờ tivi.  Không tin, bạn cứ thử mở đài Food network hay PBS coi Iron Chef America Bobby Flay trổ tài hay Jacques Pépin chỉ Fast Food My Way...  Mỗi lần coi, bụng tôi lại cồn cào hỏi sao họ làm thức ăn trông thật hấp dẫn, nhanh gọn đến như vậy.  Muốn tìm câu trả lời, tôi đành tự tìm recipe nấu thử, ra thư viện mượn sách về đọc; vạn sự khởi đầu nan, nấu xong, lẳng lặng mang tặng anh Thùng (rác).  Món nào làm ăn được, lại mời anh em tới ăn, như món Roast Beef with Parsley Tomato Sauce của Giada hay món Gà Nướng Chanh của Ina Garten.  Có món chế, như món pasta với Prego sauce, mua thịt bò xay, xào với hành tây rồi đổ hủ nước sauce Prego vào, thêm chút nước mắm cho hợp khẩu vị và Parmesan cheese.  Bé Xí vừa ăn vừa khen Ba, you're the best cook in the world!  Lỗ mũi nở to hơn trái cam, priceless.


Tôi không biết nấu nhiều về mấy món ăn Việt, chỉ biết vài món đơn giản như dĩa thịt phay ăn với tôm chua.  Thịt ba chỉ luộc ra, cắt mỏng ra dĩa, lấy nước luộc thịt bỏ cải vào thành canh, thế là có hai món.  Canh thịt bò là bò nấu với sả, canh thịt bò cà chua là thịt bò nấu với cà chua, canh thịt bò thơm là thịt bò nấu với thơm... tôi theo đạo ăn thịt bò!  Hôm nào vợ tôi ở nhà, bả đi chợ mua cá về nấu canh chua ngọt hoặc cá về chiên, chấm nước mắm.  Tôi không biết kho cá, hay rim tôm với thịt, sợ lắm, bới đi làm, hâm microwave thì chỉ có nước nghe nguyên phòng chưởi cả tháng chưa hết.


Hôm nay tôi nấu ragu bò với nấm, đậu, cà rốt và cà chua...  Lát nữa vợ tôi đi làm về, tôi sẽ chạy mua bánh mì nóng về chấm ăn.  You are welcome to break a bread with me.

Wednesday, January 20, 2010

Lịch!

tôi mới đặt mua cái đồng hồ đeo tay làm trang sức
người khác được tặng không năm, bảy cuốn lịch
Đời thật oái ăm!


Xót!
Nguyễn Tiến Trung
vở kịch rẻ tiền hạ màn
ai cũng biết trước kết cuộc
nằm nhà đá gỡ lịch bảy năm chỉ vì dám nói lời yêu nước 
với lũ tai trâu
công lý ở đâu?
đạo diễn đếch cần biết tới
Xót!  Xót lắm lắm!

Đồng hồ

Cuối tuần, thay quần áo cho con Su sau khi tắm, nó vớ cái đồng hồ đeo tay của tôi bỏ trên bệ, tôi để yên cho nó cầm chơi.  Chơi chán, nó thả cái đồng hồ xuống sàn buồng tắm, nghe cái cóc thiệt to.  Sáng nay đeo đồng hồ đi làm, tôi khám phá cái khung ngày tháng rớt ra ngoài, cản kim giờ chạy, thế là đi đong cái đồng hồ Seiko hai cửa sổ, không người lái!

Ở xứ này, đi đâu cũng thấy đồng hồ, nếu bạn không tin tôi, cứ thử để ý đếm.  Ngồi làm việc tám tiếng một ngày trước cái computer, đồng hồ nằm ở góc dưới bên phải của màn hình.  Nhảy vô xe, đồng hồ chỉ giờ ngay trước mặt.  Bật radio trong xe, cứ mỗi mười phút là đọc tin tức về giao thông (traffic), thời tiết và báo giờ.  Nhìn quanh dọc đường, thể nào cũng tìm thấy vài cái bảng hiệu quảng cáo có giờ giấc và nhiệt độ.  Nhưng cái đồng hồ chính xác nhất là đồng hồ nằm trên điện thoại di động.  Xưa, qua Cali, cách ba múi giờ là phải lo chỉnh lại giờ; bây giờ, điện thoại tự động đổi giờ theo tín hiệu vô tuyến của hãng điện thoại, tiện lợi vô cùng.

Đấy là ở ngoài đường, về nhà, kể nhé.  Cầm cái remote mở tivi, đồng hồ nằm chình ình trên hộp cable box.  Xuống bếp hâm đồ ăn cho con, đồng hồ trên microwave, cái khác nằm trên cái bếp lò.  Đồng hồ báo thức trong phòng ngủ, ba cái đồng hồ treo tường ở ba tầng lầu... mỗi lần bị cúp điện là phải đi một vòng quanh nhà chỉnh lại giờ.  Một năm hai lần, mùa xuân chỉnh tới một tiếng, mùa thu chỉnh lui một tiếng.

Đồng hồ tràn đìa khiến cái câu hỏi của mấy chàng trai giả bộ hỏi để làm quen người đẹp trở nên cổ lỗ sĩ. Cô ơi, cô làm ơn cho tôi biết mấy giờ được không?  Bộ anh mù hả?  Bộ anh nghèo đến độ không có cell phone hả?  Nghe quê chim thì thôi.  Hồi mới quen vợ tôi, Th. chở tôi ghé vô tiệm đồng hồ Tissot ở xeo xéo nhà thờ Đức Bà cho tôi mua một cái làm quà tặng.  Qua tới đây, nàng chê đeo không vừa, tôi phải dẫn đi mua một cái Seiko khác nhân ngày sinh nhật, bắt thợ cắt dây để đeo cho vừa.  Rồi cũng chẳng thấy đeo, tôi hỏi tại sao, bảo là cấn cái khi làm việc!  Ghét, từ đó về sau tôi khỏi mua.  Hứa với bé Xí là khi nào nó lớn, tôi sẽ lấy lại của mẹ nó cho nó đeo.

Có người cả đời không quen đeo đồng hồ, như thằng em kế tôi; có người không đeo đồng hồ là có cảm giác thiếu thiếu cái gì đó nơi tay, giống ở truồng, như tôi.  Có người cao siêu hơn, thích sưu tập đồng hồ đeo tay, mỗi ngày đeo một cái như thằng em họ của tôi, trong cốp xe của nó cũng có một cái dự phòng.


Cái đồng hồ đầu tiên của tôi là cái Casio điện tử Thái rẻ bèo, cùng thời với dép Lào, hàng buôn lậu đi qua đường từ Lào về Huế.  Cái thứ hai là cái Seiko 5 thừa hưởng gia tài của ba tôi khi ông lao ra biển.  Tính đến nay, cũng bảy tám cái đồng hồ đeo tay.  Nhưng vui nhất là lần đầu tiên về lại Sài Gòn vào năm 99, tôi bận xà lỏn, đi dép nhật lẹt xẹt, đón xe bus lên tận thương xá Tax sửa lại sợi dây da của cái đồng hồ Swiss Army như một anh nhà quê mới lên tỉnh.

Tôi chẳng ham ba cái Rolex, Gucci, Bulova... nạm kim cương mắc tiền, chỉ mê đeo mặt dẹp, dây da. Cổ tay tôi nhỏ, đeo dây sắt lỏng le lỏng lét, bực mình.  Ngày mai tôi sẽ đặt mua cái Citizen Eco Drive từ Amazon, ô tô ma lắc, khỏi cần thay pin như mấy cái trước, đỡ phiền phức.  Ngày nào tôi bỏ được thói mê vật dụng không cần thiết, ngày đó, có lẽ, tôi sẽ thành Phật sống.  Bạn có nghĩ vậy không?

Sunday, January 17, 2010

hạnh phúc của tôi là gì?

hạnh phúc của tôi là nghe con Su bập bẹ ba ba ba mặt mày cười rạng rỡ giơ tay đòi bồng mỗi chiều đi làm đón nó về từ nhà babysit

hạnh phúc của tôi là lúc con Su lăn qua lăn lại rúc vô nách dỗ giấc ngủ

hạnh phúc của tôi là nghe bé Xí chấp tay niệm A Di Đà Phật bằng tiếng Việt với giọng chớt chớt mỗi tối

hạnh phúc của tôi là nằm dài bắt bé Xí nhảy đùng đùng trên lưng hay vày vò cái đầu kiếm nhổ vài ba sợi tóc bạc

hạnh phúc của tôi là lâu lâu tự thưởng cho mình một miếng steak thịt bò fillet mignon medium ăn với bánh mì nóng dòn chấm chút maggi từ Đức gửi qua xắn vài trái ớt hiểm cay xé họng và nhấp chút rượu vang đỏ cabernet sauvignon

hạnh phúc của tôi là đứng đốt điếu thuốc sau nhà ngẩng đầu lên ngó từng chiếc phi cơ bay ngang qua mơ một ngày sẽ về miền biển nắng ấm nghỉ hưu

hạnh phúc của tôi là ly café mỗi sáng sớm cuối tuần ngồi trước cái còm gõ lóc cóc ba chuyện vớ vẩn nằm miết trong đầu khi ba mẹ con nhà nó còn ngáy khò khò


mai đây khi con Xí con Su lớn, tôi sẽ mất hạnh phúc hiện tại
mai đây khi bác sỹ phán high cholesterol hay nám phổi, tôi sẽ phải chối bỏ hạnh phúc hiện tại


mới trả lời xong câu hỏi này, lòi ra câu hỏi khác
nhưng câu trả lời cuối cùng vẫn là: it's life, man, don't worry too much about it. 

Saturday, January 16, 2010

Pre Tết

Đi chợ, tôi thấy người ta đã bày bán bánh mứt Tết trong mấy cửa tiệm thực phẩm Việt Nam.  Về nhà coi lịch, năm nay Tết ta mình rơi vào chủ nhật, lại trúng lễ President Day, được nghỉ ba ngày, khỏi phải mất  một ngày phép, mừng húm.  Tôi có một qui luật, mỗi năm, tôi phải bỏ giấy xin nghỉ phép vào ngày sinh nhật, mồng một Tết và ngày ba tôi mất.  Ai hỏi, bảo personal holiday, xin đừng thắc mắc.


Hương vị Tết quê nhà mỗi lúc mỗi xa xăm nhạt nhòa trong ký ức tôi.  Trước 75, còn quá nhỏ, chẳng nhớ gì nhiều; sau 75, khổ cực vây khốn, chẳng có gì đáng nhớ.  Tết năm 84 là Tết nhà tôi được đoàn tụ đông đủ nhất, trước khi ba tôi lao ra biển.  Ông ra tù tháng ba năm 83, sau Tết.


Với tôi, vui nhất là tháng trước Tết, mọi nhà lo chuẩn bị đón Tết.  Năm ấy, như mọi năm, nhà tôi lo quét vôi lại toàn căn nhà cho sạch sẽ, ba tôi và anh em tôi mặt mày quần áo lem luốt, đầy vôi trắng.  Khi tôi quét sắp xong bức tường bọc quanh nhà, N. đi học về, đạp xe ghé vào con hẻm nhà đưa mấy tập vở mới được phân phối ở trường Trung Học Thương Nghiệp.  Hoàng giữ để học thi, N. đã đủ xài.  Tôi lúng túng cảm động, tay đầy vôi quẹt lên đầu, miệng lí nhí cám ơn.  Liếc nhìn ba tôi, tôi thấy ông tủm tỉm cười, thế là hết chối rằng chưa có bồ.  Mối tình đầu học trò quái quĩ, cứ lì ở miết trong đầu.


Nói đến chuẩn bị ăn Tết là phải nói đến nồi bánh chưng, bánh tét.  Người gốc miền Trung như gia đình tôi không biết gói bánh chưng, tôi chỉ biết gói bánh tét.  Mẹ tôi phải nhờ bác Cần, người hàng xóm gốc Bắc cạnh nhà, qua gói giùm.  So với những căn nhà Sài Gòn, căn nhà cũ của tôi ở Trương Minh Ký tương đối rộng, có khoảng sân sau bếp dùng làm sân phơi quần áo và nổi lửa nấu nồi bánh tét.  Đêm canh bánh, thể nào bà ngoại tôi cũng nấu cho nồi cháo gà bồi dưỡng, bạn bè đàn đúm, nói chuyện râm rang.  Nổi lửa từ mười hai giờ trưa, đến nửa đêm, bánh chín, vớt ra ăn thử, dẻo thơm ngào ngạt.


Bánh tét ăn với dưa món.  Mẹ tôi mua cà rốt, củ cải, củ kiệu... cắt nhỏ ra, bắt tôi rải lên mái tôn nhà phơi vài nắng rồi ngâm trong từng thẩu nhỏ với nước mắm.  Bà mua tai heo, luộc, cũng ngâm nước mắm nấu với đường, nhâm nhi dai dai dòn dòn tuyệt cú mèo.  Trưa ba mươi cúng đón ông bà về ăn Tết với con cháu, ăn xong bữa cơm cúng là cảm thấy hết Tết.  Tôi hay đạp xe lang thang phố xá Sài Gòn ngắm chợ chiều ba mươi Tết.  Vội vã, xơ xác, tiêu điều... so với ồn ào náo nhiệt... của những ngày trước đó.  Có lần tôi viết thư tả cảnh tả tình chợ chiều ba mươi Tết cho cô bạn học ở California, cô ấy bảo Tết bên này đã rầu, đọc thư tôi, càng rầu hơn.


Năm tới là năm Dần, chắc kỵ tuổi tôi, kéo phé với mấy thằng em phải coi chừng kẻo cháy túi, đánh cẩn thận, không nuôi sảnh nhí nữa.

Friday, January 15, 2010

Cali có những chiếc lá khuynh diệp thơm nồng nàn.

Đọc blog nhỏ em, thấy nó viết vậy.  Thế mà câu viết đó cứ lỡn vỡn trong đầu tôi suốt mấy ngày hôm nay.


Năm 87, theo chân ông bố nuôi đi thăm một người bạn ở bắc San Francisco, tôi cũng bắt được mùi hương ấy.  Lâu rồi, không còn nhớ tên cái town nhỏ, chỉ biết chạy thẳng xa lộ 101, qua cầu Golden Gate khoảng chừng 2 tiếng đồng hồ lái xe.  Thoạt đầu, đi trên xe, tôi không biết mùi gì, thấy giống Việt Nam vô cùng tận.  Sau, lang thang trong khu rừng sau căn nhà gỗ, tôi bứt chiếc lá, vò nát trong tay, mùi dầu khuynh diệp toả lên ngào ngạt.  Hóa ra là cây tràm.


Mùi hương rừng tràm khiến tôi nhớ Huế, nhớ đồi Thiên An, đầm Thủy Tiên.  Tôi biết nơi ấy nhờ một chị sinh viên y khoa Huế, quen trên chuyến xe lửa Thống Nhất 2 ra Huế, chỉ cho.  Lần đi chơi đó về, trả chiếc Honda cho khổ chủ, tôi bị anh Nhân ghẹo:  Gái Huế rủ mi lên Thiên An là kết mi rồi.  Tôi đỏ mặt cải lại, không có mô, chị nớ lớn hơn em cả năm, sáu tuổi.  Miệng nói thế nhưng trong lòng tối ngủ mơ hoa, ai biết.  Năm 2001, tôi cũng chở vợ tôi về thăm chốn cũ, nhưng cảm giác của thưở mới lớn không còn nữa.  Chỉ biết tủm tỉm cười một mình.




Dầu khuynh diệp và phấn nụ là hai trong những đặc sản của Huế.  Dầu khuynh diệp trị bá bịnh, đau đầu, sổ mũi, đau bụng, cảm cúm chi chi, xức vô một chút là khỏi ngay.  Tôi lớn lên với mùi dầu khuynh diệp, trong nhà lúc nào cũng có chai dầu khuynh diệp để lỡ gió máy.  Mỗi lần đi buôn chuyến đường Huế Sài Gòn, mẹ tôi vẫn mang chút ít hai thứ đó vào lại Sài Gòn bán lẻ lại cho bà con lối xóm.


Ơi khuynh diệp, cái tên nghe thật Huế, nghe để mà nhớ.